Trang chủ » Bác sĩ trẻ » Các tỉnh dự án » Kon Tum » Tu Mơ Rông » Thực trạng huyện nghèo Tu Mơ Rông

Thực trạng huyện nghèo Tu Mơ Rông

I. Thông tin chung: Huyện Tu Mơ Rông được thành lập tháng 6 năm 2005 theo Nghị định số 76/2005/NĐ-CP, ngày 09/6/2005 của Chính phủ, là huyện nghèo thuộc chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết 30a của Chính phủ. Huyện có diện tích tự nhiên khoảng 85.718 ha, trong đó đất nông lâm nghiệp chiếm khoảng 96,2%, với 11 xã đặc biệt khó khăn; mật độ dân số rất thấp, khoảng 24,0 người/km2. Tính cộng đồng trong lối sống cũng như sinh hoạt được thể hiện rất rõ nét, sống theo cụm tập trung. Đời sống của người dân gắn liền với canh tác nương rẫy, lúa nước và rừng (đặt bẫy, săn bắn thú rừng) với quá trình sản xuất còn lạc hậu, tự cung tự cấp; một số phong tục tập quán còn lạc hậu đang là thách thức lớn cho phát triển kinh tế – xã hội của huyện. Mức sống dân cư thấp, tỷ lệ hộ đói nghèo cao, chiếm trên 77%, với 3.634 hộ nghèo (theo tiêu chí mới).

Tu Mơ Rông là huyện nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Kon Tum. Trung tâm huyện Tu Mơ Rông cách trung tâm tỉnh lỵ (thành phố Kon Tum) khoảng 80 km về phía Bắc theo tỉnh lộ 672 và quốc lộ 14 (đường Hồ Chí Minh), có vị trí địa lý:

– Phía Đông giáp huyện Kon Plong.

– Phía Tây giáp huyện Ngọc Hồi.

– Phía Nam giáp huyện Đăk Tô và huyện Đăk Hà.

– Phía Bắc giáp huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum và huyện Trà My, tỉnh Quảng Nam.

Huyện có địa hình phức tạp, bị chia cắt nhiều bởi các suối, hợp thủy và núi cao. Địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây. Huyện có nhiều bậc thềm địa hình, tạo nên nhiều kiểu địa hình đa dạng: gò đồi, núi cao và vùng trũng xem kẽ nhau khá phức tạp. Trong đó nổi bậc là địa hình đồi núi; địa hình đồi núi bao quanh tạo là những thung lũng hẹp là vùng sản xuất nông nghiệp. Nhìn chung địa hình toàn huyện có dạng đồi núi là chính, chiếm hơn 80% diện tích tự nhiên toàn huyện, có ba dạng địa hình chính:

– Điạ hình núi trung bình: Phân bố ở sườn núi phía nam đỉnh núi Ngọk Linh (2.598 m); Núi Ngọk Tu Măng 1.994m, Ngọk  Puôk 2.370m, Ngọk Păng 2.378m. Độ cao trung bình so với mặt nước biển 1.000-2.333m; gồm các dãy núi phía bắc và Đông bắc huyện, thuộc địa bàn các xã Đăk Na, Ngọc Lây, Tê Xăng, Măng Ri, Ngọc Yêu. Độ dốc khu vực này trên 250; trong khu vực có nhiều thung lũng hẹp, sâu.

– Địa hình núi thấp: Có độ cao trung bình 800-1.000m, phân bố ở phía bắc và đông của huyện, có nhiều thung lũng hẹp và sâu

– Địa hình thấp được bồi tụ: Có độ dốc trung bình 550-600m; phân bố ở khu vực phía Nam và Tây Nam.

Nhìn chung, địa hình huyện rất đa dạng và phức tạp; mức độ chia cắt lớn, độ dốc cao ở phía bắc và đông. Địa hình phức tạp nên tác động không nhỏ đến các hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân trong huyện, nhất là việc tiếp cận các dịch vụ y tế đến với người dân ở vùng cao, vùng xa, vùng khó khăn.

* Tỉnh lộ: Có 2  tuyến, tỉnh lộ 672 và tỉnh lộ 678;  Tỉnh lộ 672: Chạy từ thị trấn Đăk Tô đến Măng Ri. Đoạn qua huyện dài 40 km([1]). Tỉnh lộ 678: Chạy từ Văn Lem đến Đăk Na dài 27,3 km (ĐăkTơKan, ĐăkRơÔng, Đăk Sao, Đăk Na), đây là tuyến đường quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội đối với các xã phía Tây và phía Nam huyện.

* Đường huyện lộ: 2 tuyến, tuyến Tu Mơ Rông-Ngọc Yêu, tuyến Tu Mơ Rông – Ngọc Lây, tổng chiều  dài 22 km.

* Đường nông thôn: Khoảng 23 tuyến, tổng chiếu dài 152,8 km, rộng từ 2-3 m, trong đó 14 km cấp phối, còn lại là đường đất; trên địa bàn huyện vẫn còn 61/91 thôn làng chưa thông xe 2 mùa.

– Số xã có đường ô tô đến được trung tâm xã 2 mùa là 10/11 xã, riêng đường ô tô đến xã Ngọc Yêu là đường đất, đi được vào mùa khô. Huyện có 91 thôn làng, trong đó còn 50% thôn làng chưa có đường ô tô đến trung tâm của thôn, nền đường chủ yếu là đường đất do dân tự làm. Hệ thống đường giao thông từ các thôn đi khu sản xuất chủ yếu là đường mòn.

Tổng chiều dài các tuyến đường trên địa bàn huyện 210,33 km (Đường tỉnh: 54,2 km chiếm 25,77%; Đường huyện: 22,0 km chiếm 10,46%; Đường xã, thôn: 134,13 km chiếm 63,77%). Trong đó đường huyện, xã chủ yếu là đường nhựa, nền đường rộng khoảng 5-7m; mặt đường rộng khoảng 4-5m, đi lại tương đối thuận lợi. Tuy nhiên, cần phải duy tu bảo dưỡng, nâng cấp mở rộng để có thể đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội huyện trước mắt và lâu dài

Tổng giá trị gia tăng năm 2010 là: 58,61 tỷ đồng; tốc độ tăng trưởng hàng năm giai đoạn 2006 – 2010 là 17,74%/năm, trong đó nông lâm thủy sản tăng 14,43%/năm; công nghiệp – xây dựng tăng 25,12%/năm; thương mại – dịch vụ tăng 11,39%/năm. Năm 2011 giá trị này là 67,4 tỷ đồng, tăng 15% so với năm 2010, trong đó nông lâm thủy sản tăng 12,74%; công nghiệp – xây dựng 17,6%; thương mại – dịch vụ 13,6%. Quy mô nền kinh tế nhỏ, xuất phát điểm còn thấp nên tăng trưởng kinh tế chưa cao, chưa đóng góp đáng kể trong việc cải thiện thu nhập của người dân.

chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp – xây dựng, thương mại – dịch vụ. Tỷ trọng công nghiệp – xây dựng tăng từ 23,35% năm 2005 lên 36,6% năm 2010 và 38% năm 2011; ngành nông lâm thủy sản giảm từ 57,81% năm 2005 xuống còn 47,57% năm 2010 và 46% năm 2011.

Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 2,74 triệu năm 2005 lên 5,9 triệu đồng năm 2010 và 6,81 triệu đồng bằng 39,4% so với bình quân thu nhập của tỉnh. Thu nhập có tăng đáng kể, tuy nhiên những năm gần đây chỉ số giá tiêu dùng tăng cao, nên giá trị thực của thu nhập tăng không đáng kể.

Mức sống dân cư thấp, tỷ lệ hộ đói nghèo cao, chiếm trên 77%, với 3.634 hộ nghèo (theo tiêu chí mới).

Tính cộng đồng trong lối sống cũng như sinh hoạt được thể hiện rất rõ nét, sống theo cụm tập trung. Đời sống của người dân gắn liền với canh tác nương rẫy, lúa nước và rừng (đặt bẫy, săn bắn thú rừng) với quá trình sản xuất còn lạc hậu, tự cung tự cấp; một số phong tục tập quán còn lạc hậu đang là thách thức lớn cho phát triển kinh tế – xã hội của huyện.

Dân số trung bình năm 2012 là 23.570 người, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 99,05%; tỷ lệ tăng dân số chung năm 2010 là 7,25%,  trong đó tăng tự nhiên là 2,09% và tăng cơ học 5,16% (phần lớn là lao động ở nơi khác chuyển đến làm việc tại huyện); dân cư hầu hết là cộng đồng dân tộc thiểu số (dân tộc Xê Đăng chiếm đại đa số).

Phong tục, tập quán: Hoạt động văn hoá thông tin thể dục thể thao đã được huyện quan tâm chú trọng, nhiều hoạt động hội tụ nhiều bản sắc dân tộc, có nét văn hoá riêng, lâu đời nay của đồng bào dân tộc thiểu số bản địa vẫn lưu giữ, đặc biệt được thể hiện rõ trong những ngày lễ hội truyền thống, hội mùa (15 lễ hội như: đâm trâu, bắt máng nước, ăn mừng lúa mới…); hiện nay trên địa bàn huyện có 109 bộ cồng chiêng, các nghệ nhân cồng chiêng thường thể hiện vào các dịp Lễ hội.

II. Thông tin về y tế

Cơ sở y tế nhà nước tuyến huyện:  Trung tâm Y tế huyện, phòng khám đa khoa khu vực và các TYT xã. Tổng số nhân lực: 131 Cán bộ Công chức, viên chức, người lao động

Nhu cầu nhân lực và chuyên khoa: Các chuyên khoa: Ngoại, Sản, Nhi, Hồi sức cấp cứu

Một số hình ảnh

hinh TTYT huyen Tu Mo Rong IMG_8248 (Copy) IMG_8261 (Copy) IMG_8490 (Copy) IMG_8496 (Copy) IMG_8497 (Copy) IMG_8498 (Copy) IMG_8505 (Copy)

Gửi thảo luận